Thúc đẩy xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số

Đây chính là bài học kinh nghiệm qua quá trình tổng kết, đúc kết từ việc triển khai Đề án 06 giai đoạn 1 (2022-2025) từ việc ứng dụng nhóm dữ liệu trụ cột dân cư, căn cước, định danh để lan tỏa là điểm tựa, nền tảng cho tạo lập các cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành, tạo lập công cụ số là tài khoản định danh điện tử, ứng dụng VNeID, thẻ Căn cước gắn chip mang lại các giá trị thực chất cho nhà nước, người dân, doanh nghiệp. Chính vì vậy, qua quá trình triển khai Đề án 06 đã thúc đẩy nhận thức việc xây dựng, kết nối và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành không chỉ là yêu cầu quản lý nhà nước, mà còn là điều kiện tiên quyết để phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế số và xã hội số.

Một số hình ảnh chuyển đổi số của một sô doanh nghiệp

Từ cơ sở thực tiễn của Đề án 06, thực hiện các chủ trương, định hướng theo Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, chương trình hành động tại Nghị quyết số 71/NQ-CP, Nghị quyết số 214/NQ-CP của Chính phủ, trong năm 2025, công tác xây dựng và khai thác dữ liệu đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhận thức về vai trò chiến lược của dữ liệu tiếp tục được nâng cao; nhiều bộ, ngành, địa phương đã từng bước chuyển từ tư duy “xây dựng hệ thống” sang tư duy “quản trị dựa trên dữ liệu”, coi dữ liệu là tài sản và là nền tảng cho đổi mới sáng tạo, cụ thể như sau:

Thứ nhất, trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân thúc đẩy tạo lập cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành như nhóm dữ liệu về đất đai, y tế, giáo dục, hộ tịch, tình trạng ly hôn, tàu thuyền và hóa cất, tiền chất; một số cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trọng yếu đã được hình thành và vận hành tương đối ổn định. Đến hết năm 2025, 32 trên tổng số 105 cơ sở dữ liệu theo Nghị quyết 71 đã được xây dựng tập trung; 16 cơ sở dữ liệu đã có nền tảng tương đối hoàn chỉnh, từng bước đáp ứng yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.

Thứ hai, từ dữ liệu, gắn chặt và thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, phát triển dịch vụ số. Thông qua việc rà soát tổng thể hơn 5.500 thủ tục hành chính với khoảng 29.000 thành phần hồ sơ, cho thấy các CSDL không còn được xây dựng thuần túy để “có dữ liệu”, mà đã từng bước được khai thác để thay thế hồ sơ giấy, tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục. Hiện, 16 CSDL đã hình thành nền tảng tập trung đang thay thế được hơn 13.500 thành phần hồ sơ trong khoảng 3.700 thủ tục hành chính, trong đó phần lớn là các thủ tục liên ngành. Nếu tập trung nguồn lực hoàn thành 20 CSDL phổ biến nhất trong thời gian tới, có thể thay thế tới 23.500 thành phần hồ sơ trong gần 6.900 thủ tục hành chính, qua đó có thể tạo ra cải cách mang tính đột phá, trực tiếp giảm chi phí tuân thủ, nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ của bộ máy hành chính nhà nước.

Thứ ba, kinh tế số và xã hội số tiếp tục tăng trưởng mạnh. Năm 2025, quy mô kinh tế số của Việt Nam ước đạt khoảng 18% GDP, duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 20% mỗi năm; nhiều lĩnh vực như thương mại điện tử, tài chính số, logistics số phát triển mạnh, trong đó dữ liệu đóng vai trò là đầu vào quan trọng cho đổi mới sáng tạo và hình thành các mô hình kinh doanh mới, bước đầu định hướng về kinh tế dữ liệu; ứng dụng định danh và xác thực điện tử để xác định người dùng, góp phần phòng ngừa gian lận và củng cố niềm tin trong giao dịch. Bên cạnh đó, khi dữ liệu được khai thác, phân tích bằng công nghệ AI và Big Data và các nền tảng công nghệ khác, càng khai thác càng tạo ra giá trị về kinh tế gấp nhiều lần giá trị ban đầu. Đây chính là "dầu mỏ của thế kỷ 21" - nguồn tài nguyên vô tận cho đổi mới sáng tạo, ra đời hàng nghìn sản phẩm, dịch vụ mới, tạo việc làm và đóng góp vào tăng trưởng GDP.

Thứ tư, phân tích chỉ đạo điều hành dựa trên dữ liệu giúp hoạch định phát triển xây dựng xã hội số văn minh, tiến bộ và bền vững. Dữ liệu chính xác giúp Nhà nước quản trị dựa trên bằng chứng, từ đó hoạch định chính sách khoa học, phân bổ nguồn lực hợp lý, phục vụ người dân tốt hơn. Đồng thời, dữ liệu còn là công cụ trao quyền, giúp công dân chủ động kiểm soát thông tin cá nhân, tham gia giám sát công quyền, góp phần xây dựng xã hội dân chủ, minh bạch. Khi dữ liệu "sống" và "chảy" thông suốt, xã hội số không chỉ là không gian ảo mà là một hệ sinh thái hoàn chỉnh nơi mọi hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị đều được số hóa, tối ưu và kết nối.

Tuy nhiên, để dữ liệu thực sự trở thành nền móng vững chắc, cần đảm bảo ba nguyên tắc cốt lõi. Một là dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống - nghĩa là chính xác, đầy đủ thuộc tính, được làm sạch loại bỏ trùng lặp và cập nhật theo thời gian thực. Hai là dữ liệu không được là tài sản riêng của từng bộ ngành mà phải được chia sẻ an toàn trên nền tảng thống nhất, phá bỏ tư duy "cát cứ". Ba là dữ liệu phải được bảo vệ nghiêm ngặt về an ninh, an toàn nhưng đồng thời phải được khai thác tối đa để tạo giá trị, tránh tình trạng "kho báu nằm im". Nếu nhìn vào thực chất, chúng ta mới chỉ ở giai đoạn “xây nền móng bước đầu” song tiềm năng khai thác để hình thành các động lực tăng trưởng mới vẫn còn rất lớn. Kinh tế số 18% GDP vẫn còn xa mục tiêu 30% vào năm 2030. Tỷ lệ giải quyết thủ tục toàn trình chỉ đạt 39% khối bộ và 16,9% khối tỉnh, cho thấy hạ tầng số đã có nhưng mức độ sử dụng còn thấp. Tỷ lệ dân số có chữ ký số chỉ đạt 33%, thấp hơn nhiều mục tiêu 50%. Quan trọng hơn, chúng ta hiện đang có “dữ liệu"”nhưng chưa thực sự có “kinh tế dữ liệu” phát triển.

Phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Xem nhiều nhất